» Mở tất cả ra       » Thu tất cả lại
English and French
Tìm kiếm

Bài & Tin mới
Suy nghĩ về Nghị quyết 120 của Chính phủ.[15/03/21]
Buổi họp giữa lãnh đạo Tổng Hội Xây dựng và Hội Đập lớn & PT Nguồn Nước VN.[13/03/21]
Giới thiệu một số mẫu nhà phòng chống thiên tai.[12/03/21]
Nghị định 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dung.[11/03/21]
Nghị định 15/2021/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dung.[10/03/21]
Luật Xây dựng 2020 - Sửa đổi, bổ xung một số điều.[09/03/21]
Luật Xây dựng 2014.[08/03/21]
Giải pháp chi phí thấp thân thiện với tự nhiên để xử lý sạt lở bờ sông ở Đồng bằng sông Cửu Long.[05/03/21]
Sông Dương Tử (Trung Quốc) lớn thứ ba thế giới đang cạn dần ‘từng giọt’.[04/03/21]
Đối tác công tư dưới góc nhìn của quan sát viên.[01/03/21]
Tầm nhìn 2050 trong MDIRP và phát triển bền vững đồng Đằng sông Cửu long (đbscl).[26/02/21]
Thử nghiệm giải pháp mềm để bảo vệ bờ biển khỏi sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long.[25/02/21]
Chợ làng, chợ phố và… đàn bà.[22/02/21]
Công nghệ điện mặt trời nổi – một bước tiến mới về công nghệ điện mặt trời.[16/02/21]
Một số vấn đề kỹ thuật nền móng công trình ở vùng đất đồi dốc.[04/02/21]
Nhắc lại phản biện MDP để góp ý với MDIRP.[01/02/21]
Tình hình thiên tai, công tác chỉ đạo điều hành ứng phó và khắc phục hậu quả bão, mưa lũ khu vực miền Trung.[30/01/21]
Hội thảo ‘Thiên tai lũ quét, sạt lở đất ở khu vực Miền Trung, nguyên nhân và giải pháp giảm thiểu’.[27/01/21]
Quan điểm phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long. MDIRP quy hoạch gì cho thời kỳ (2021-2030)
 Số phiên truy cập

76260433

 
Quản lý Qui hoạch
Gửi bài viết này cho bạn bè

Một số ý kiến về xây dựng và vận hành thủy điện hiện nay.[16/05/12]
Trong những năm qua thủy điện đã được phát triển mạnh mẽ góp phần đáng kể đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp tại các vùng có dự án.

MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ XÂY DỰNG VÀ VẬN HÀNH

THỦY ĐIỆN HIỆN NAY

(Báo cáo tại Đại hội thành lập Câu lạc bộ “Doanh nhân thủy điện”)

 

KS. Trần Tiếp Đệ

Tổng thư ký Hội Đập lớn

& PT nguồn nước VN

 

Trong những năm qua thủy điện đã được phát triển mạnh mẽ góp phần đáng kể đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp tại các vùng có dự án. Tăng hiệu quả sản phẩm hàng hóa sản xuất trong nước có sử dụng điện, tạo thêm nhiều việc làm cho các lực lượng lao động trong cả nước, là nguồn năng lượng sạch, có khả năng tái tạo, giá thành điện năng rẻ hơn so với các nguồn điện khác...

Việc vận hành các hồ chứa thủy điện theo đúng quy định sẽ góp phần tích cực trong việc cắt giảm lũ và điều tiết bổ sung lưu lượng về mùa kiệt cho các nhu cầu như sinh hoạt, nông nghiệp, đẩy mặn, môi trường...cho hạ du. Đi đôi với việc xây dựng các dự án thủy điện (DATĐ), hệ thống giao thông, cấp điện và cơ sở hạ tầng trong khu vực có điều kiện được nâng cấp, phát triển. Các hồ chứa thủy điện kết hợp khai thác du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy. Việc hình thành các hồ chứa thủy điện cũng tạo tiểu vùng khí hậu với độ ẩm cao, tăng mực nước ngầm giúp phát triển kinh tế xã hội của khu vực.   

Tuy nhiên, trong các bước quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý vận hành, an toàn công trình, ... còn nhiều tồn tại do nhiều nguyên nhân mà câu lạc bộ “Doanh nhân thủy điện” phải tăng cường quan hệ hợp tác, giao lưu, thoả thuận để rút kinh nghiệm, kiến nghị đó là:

1.     Về công tác quy hoạch:

- Công tác quản lý quy hoạch thủy điện còn chồng chéo giữa các Bộ, ngành, trên một dòng sông, Bộ Tài nguyên và Môi trường quy hoạch phát triển tài nguyên nước, Bộ Công thương quy hoạch bậc thang thủy điện, Bộ Nông nghiệp & PTNT quy hoạch thủy lợi, ... do vậy, khi triển khai đầu tư xây dựng công trình phải xin thỏa thuận của nhiều Bộ, ngành. Thậm chí có dự án khi triển khai xây dựng mới phát hiện sự chồng chéo về mặt quy hoạch, phải xử lý gây lãng phí, chậm tiến độ.

- Các quy hoạch vùng do địa phương quản lý thường được ưu tiên giao cho các đơn vị tư vấn trên địa bàn thực hiện để dễ quản lý, ... trong khi trình độ, kinh nghiệm còn non kém, hạn chế, thiết bị không đầy đủ dẫn đến chất lượng quy hoạch chưa đáp ứng, thường xuyên phải điều chỉnh, bổ sung: danh mục, sơ đồ khai thác và quy mô dự án chưa nghiên cứu toàn diện lưu vực hoặc địa bàn; chưa cập nhật hoặc đồng bộ với các quy hoạch khác có liên quan. Các tài liệu cơ bản cho quy hoạch còn thiếu hoặc độ chính xác thấp do công tác điều tra, khảo sát thực tế còn hạn chế, yếu kém. Các cơ quan chức năng ở địa phương chưa thực sự quan tâm, phối hợp và chỉ đạo thực hiện trong quá trình lập, góp ý, thẩm định phê duyệt quy hoạch. Ngân sách cho công tác lập quy hoạch của địa phương hạn chế và phân bổ theo kế hoạch ...

2.     Về đầu tư xây dựng các DATĐ

- Các DATĐ do địa phương quản lý: Việc giao lập dự án đầu tư hoặc cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các đơ vị tư vấn, xây lắp chưa xem xét kỹ về năng lực tài chính và kinh nghiệm của các đơn vị, chất lượng hồ sơ dự án đăng ký đầu tư, điều kiện đầu tư không đảm bảo về mặt kỹ thuật. Công tác quản lý đầu tư xây dựng chưa được quan tâm chỉ đạo, thực hiện đúng mức. Một số tỉnh chưa chỉ đạo, giao nhiệm vụ cụ thể để các cơ quan chuyên môn triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý đầu tư và chất lượng công trình thủy điện (thậm chí có tỉnh thực hiện chưa đúng quy định). Một số dự án được khởi công xây dựng khi chưa đảm bảo các điều kiện về trình tự xây dựng cơ bản. Việc kiểm tra, giám sát của chủ đầu tư đối với các đơn vị tư vấn và nhà thầu thi công chưa được thường xuyên và đầy đủ về đảm bảo chất lượng công trình, tiến độ thực hiện, bảo vệ và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường - xã hội.... Đa số các tỉnh chưa thực hiện đúng chế độ và nội dung báo cáo công tác quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng các DATĐ.

- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng được thực hiện ở nhiều địa phương trong cùng một dự án, cơ chế chính sách đền bù giải phóng mặt bằng thay đổi hàng năm gây khó khăn lớn trong thực hiện.

- Về huy động và giải ngân vốn đầu tư: Do có nhiều biến động về lãi suất vốn vay và hạn chế tín dụng cho vay vốn của các tổ chức tín dụng, ... nên việc đáp ứng đủ vốn và giải ngân vốn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tiến độ thi công.

3.     Về xây dựng công trình lưới điện

Việc đầu tư, vận hành, bảo dưỡng đường dây và trạm biến áp từ nhà máy điện đến điểm đấu nối với lưới điện hiện có thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư; điểm đấu nối do bên bán và bên mua điện thỏa thuận.

Mặc dù các bên liên quan đã nỗ lực trong việc đầu tư xây dựng công trình lưới điện nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, ảnh hưởng đến việc đấu nối, đặc biệt là các nhà máy thủy điện nhỏ do địa phương quản lý. Các nguyên nhân chính là do nguồn vốn đầu tư hạn chế; các DATĐ nhỏ có chung lưới điện đấu nối triển khai không đồng bộ nên khó huy động vốn góp của các chủ đầu tư liên quan. Việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư và cho phép khởi công các DATĐ chưa xem xét hiện trạng lưới điện và tiến độ đầu tư lưới điện trong khu vực. Công tác giải phóng mặt bằng xây dựng công trình lưới điện gặp nhiều khó khăn...

4.     Về quy trình vận hành các hồ chứa thủy điện

Quan điểm chủ đạo khi xây dựng quy trình vận hành hồ chứa thủy điện là đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình đảm bảo hài hòa lợi ích sử dụng nước, giảm thiểu tác động tiêu cực đối với hạ du và linh hoạt trong điều hành thực tế.

Về điều tiết lũ là không làm gia tăng lưu lượng đỉnh lũ trong thời gian lũ lên; về mùa kiệt, phải vận hành đảm bảo xả lưu lượng tối thiểu cho hạ du theo quy định. Trên cơ sở đó, Ban quản lý phải lập kế hoạch vận hành chi tiết với từng trường hợp cụ thể đáp ứng các nhiệm vụ của công trình, quy trình vận hành cũng được thông báo cho chính quyền và nhân dân địa phương biết, đặc biệt là trước khi xả lũ (hiệu lệnh còi, văn bản, điện thoại, fax, mạng vi tính…) cho từng trường hợp vận hành. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa Ban quản lý với chính quyền địa phương.

Tuy nhiên, nhiều trường hợp việc vận hành hồ chứa chỉ ưu tiên cho mục tiêu đảm bảo an ninh về điện và hiệu quả kinh tế về phát điện còn mục tiêu xả nước bổ sung cho hạ du chưa được chú trọng đúng mức dẫn đến lượng dòng chảy về hạ du bị thiếu hụt nghiêm trọng.

Có thời điểm lượng dòng chảy đến các hồ bị tích lại hoàn toàn, không xả về hạ du nhằm tích nước để phát vào thời kỳ khác có giá trị điện cao hơn đac gây nên sự hạ thấp mực nước giả tạo, gây khó khăn cho ngành dùng nước hạ du.

Để thu được hiệu quả phát điện tối đa, nhiều hồ chứa áo dụng chế độ vận hành điều tiết ngày đêm theo chế độ phủ đỉnh biểu đồ phụ tải điện năng, vì thế trong giờ cao điểm ban ngày, các hồ đều phát điện với công suất tối đa và trong giờ thấp điểm ban đêm thì phát điện với công suất tối thiểu hoặc ngừng phát đã gây biến đổi dòng chảy đột ngột cho hạ du cạn kiệt một số giờ nhất định ảnh hưởng đến sử dụng nước và hệ sinh thái hạ lưu.

Một số công trình mới hoàn thành hoặc đang trong thời gian xây dựng do thiếu quy định về công tác đảm bảo an toàn phòng chống lụt, bão (thủy điện Hố Hô, Hà Tĩnh) hoặc chế độ phối hợp, thông tin với các cơ quan liên quan khi vận hành xả lũ (các thủy điện A Vương và Sông Ba Hạ) đã gây nên một số hậu quả không tốt tại địa phương, phải rút kinh nghiệm, sửa chữa.

5.     Một số giải pháp và kiến nghị

Các DATĐ có vốn đầu tư rất lớn, theo EVN, tính đến cuối năm 2009, cả nước ta có 23 công trình thủy điện vừa và lớn đang hoạt động với tổng công suất lắp đặt 6.200MW. Hiện nay, nước ta đã có trên 500 công trình thủy điện lớn nhỏ và theo quy hoạch sẽ có 1020 công trình thủy điện sẽ được xây dựng (suất đầu tư khoảng 30 tỷ/MW), trong đó khoảng 70 - 85% là vốn vay của các tổ chức tín dụng và ngân hàng. Vì vậy, việc đầu tư xây dựng các DATĐ đảm bảo an toàn, phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, có ý nghĩa rất quan trọng.

Để tăng cường quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng các DATĐ, đảm bảo thực hiện các dự án có hiệu quả, giảm thiểu tác động môi trường - xã hội, đạt chất lượng và tiến độcần thực hiện một số giải pháp và xin kiến nghị như sau:

a) Giải pháp

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng, quản lý vận hành các công trình thủy điện từ Trung ương đến địa phương, cơ sở một cách chặt chẽ, liên tục và hiệu quả từ khâu quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, tổ chức thi công và quản lý khai thác..

- Ban hành kịp thời và đồng bộ hệ thống văn bản pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng công trình và vận hành quản lý các công trình thủy điện, nhất là các thông tư, nghị định hướng dẫn khi luật ban hành có hiệu lực.

- Phối hợp với các địa phương sớm hoàn thành công tác đền bù, giải phóng mặt bằng tái định cư, định canh, đảm bảo an ninh trật tự đặc biệt là dự án có nhà thầu nước ngoài. Đối với các dự án nguồn điện và lưới điện 500 KV đề nghị tách công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường hỗ trợ và tái định cư thành tiểu dự án độc lập, giao UBND tỉnh, thành phố thực hiện.

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là cán bộ vận hành, quản lý.

- Sớm xây dựng quy trình tích nước và xả lũ các hồ chứa để vận hành tối ưu nhà máy thủy điện, hài hòa các lợi ích sử dụng nước, vừa tận dụng nguồn thủy năng vừa giảm nhẹ lũ và hạn hán ở hạ du.

b) Câu lạc bộ doanh nhân thủy điện dự kiến sẽ kiến nghị và đề xuất:

- Với Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan xem xét, tạo điều kiện thuận lợi để chủ đầu tư các DATĐ được ưu tiên vay các nguồn vốn, đặc biệt là vốn ODA và tín dụng đầu tư của Nhà nước; có cơ chế hỗ trợ đầu tư của Nhà nước đối với công tác sản xuất, chế tạo, gia công các thiết bị ở trong nước;

- Với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương và UBND các tỉnh nghiên cứu, ban hành quy định về việc lựa chọn chủ đầu tư, điều kiện và thủ tục cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư các DATĐ; nghiên cứu, trình Chính phủ xem xét điều chỉnh hợp lý thời hạn nghiên cứu đầu tư, khởi công và xây dựng công trình;

- Với Bộ Xây dựng sớm nghiên cứu điều chỉnh, thống nhất quy định về phân loại và phân cấp công trình thủy điện; trình Thủ tướng Chính phủ xem xét việc điều chỉnh, bổ sung quy định về quản lý nhà nước đối với Thiết kế cơ sở và Dự án đầu tư (theo hướng đáp ứng một trong số các tiêu chí về chiều cao đập, dung tích toàn bộ hồ chứa, công suất lắp máy và Tổng mức đầu tư), đảm bảo việc thẩm định dự án phù hợp với năng lực của các cơ quan liên quan tại địa phương;

- Với Bộ Công Thương tăng cường quản lý nhà nước, nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung các quy định về quản lý đầu tư xây dựng các DATĐ. Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho các Sở Công Thương và các đơn vị có liên quan về quản lý, đầu tư, xây dựng và vận hành các DATĐ vừa và nhỏ. Xem xét, có ý kiến thỏa thuận (về năng lực, kinh nghiệm của doanh nghiệp; sự phù hợp của dự án với quy hoạch và các điều kiện đầu tư liên quan) trước khi UBND tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư các DATĐ, có cơ chế chính sách phù hợp, khuyến khích các tập thể, cá nhân tham gia xây dựng các DATĐ

- Với Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, ban hành hướng dẫn xác định dòng chảy tối thiểu; tăng cường bố trí các trạm quan trắc khí tượng - thủy văn trên các lưu vực sông. Chỉ đạo và tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường tại các DATĐ;

 - Với UBND các tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng và bàn giao đất sạch cho chủ đầu tư, tăng cường giám sát thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Tiếp tục kiểm tra, rà soát, điều chỉnh hợp lý quy hoạch thủy điện nhỏ trên địa bàn, đảm bảo quy hoạch các DATĐ có hiệu quả, giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường - xã hội, chỉ đạo nghiên cứu và xem xét phê duyệt điều chỉnh hợp lý Quy trình vận hành các hồ chứa thủy điện có liên quan về mùa lũ và mùa kiệt. Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan trên địa bàn thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý đầu tư và chất lượng công trình thủy điện. Tăng cường kiểm tra về năng lực, kinh nghiệm, tiến độ thực hiện dự án của các đơn vị có liên quan (chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn và nhà thầu thi công), phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương trong việc cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư các DATĐ theo quy định.

- Với EVN phối hợp với chủ đầu tư các DATĐ khẩn trương đầu tư các đường dây truyền tải điện theo quy hoạch phát triển điện lực, đáp ứng yêu cầu đấu nối (đặc biệt là các DATĐ đang thi công xây dựng); có giải pháp đảm bảo cung cấp điện ổn định phục vụ thi công các DATĐ, đặc biệt là các dự án chuẩn bị hoàn thành.

Đóng góp ý kiến về bài viết này 

Mới hơn bài này
Các bài đã đăng
Tiêu điểm
Đại hội lần thứ IV, sự kiện lớn của Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.[27/04/19]
Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp phát triển thủy lợi của đất nước.[18/04/19]
Danh sách Hội viên tập thể đã đóng niên liễm 2018.[11/01/19]
Chùm ảnh Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam.[13/08/09]
Nhìn lại 5 năm hoạt động của VNCOLD trong nhiệm kỳ đầu tiên.[10/08/09]
Thông báo về Hội nghị Đập lớn Thế giới.[17/07/09]
Thư chào mừng của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
VNCOLD đã thành công tại cuộc họp Chấp hành ICOLD Sofia (Bulgaria), 6/6/2008
Phó Thủ tướng khai mạc Hội thảo “ASIA 2008.
Tạo miễn phí và cách sử dụng hộp thư @vncold.vn
Website nào về Thủy lợi ở VN được nhiều người đọc nhất?
Giới thiệu tóm tắt về Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.
Download miễn phí toàn văn các Tiêu chuẩn qui phạm.
Đập tràn ngưỡng răng cưa kiểu “phím piano".
Đập Cửa Đạt
Lời chào mừng
Qu?ng c�o