» Mở tất cả ra       » Thu tất cả lại
English and French
Tìm kiếm





Bài & Tin mới
Ăn mòn cốt thép và ảnh hưởng của nó tới ứng xử của kết cấu bê tông cốt thép.[03/12/14]
Sổ tay An toàn đập - Chương 9.[01/12/14]
Bê tông hóa kênh mương với việc ứng dụng công nghệ thi công tiên tiến.[30/11/14]
Luật Đầu tư công.[28/11/14]
How to Add Years to Your Life?[27/11/14]
Quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ về vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sống Srêpôk trong mùa lũ hàng năm.[26/11/14]
Bản tin “Hai máy bay suýt đụng nhau”: Những con số “tréo ngoe”.[25/11/14]
Trường Đại học Thủy Lợi 55 năm xây dựng và trưởng thành.[24/11/14]
Kỷ niệm 55 năm thành lập Trường Đại học Thủy lợi (1959 -2014).[24/11/14]
Sự phát triển những dấu hiệu dễ bị tổn thương do thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu: nghiên cứu vùng bờ biển Quảng Nam, Trung bộ Việt Nam.[19/11/14]
Ứng dụng khoa học công nghệ trong xây dựng công trình thủy lợi tỉnh Cà Mau: Thuận lợi, khó khăn và giải pháp.[18/11/14]
Hoàn thiện công nghệ tính toán kết cấu đập vòm bê tông.[17/11/14]
Hội nghị Khoa học 55 năm Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.[16/11/14]
Hoạt động khoa học công nghệ Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam giai đoạn 2009-2014.[15/11/17]
How to Add Years to Your Life?[14/11/14]
Thiên tai bất thường và tác động của chúng tới công trình thủy lợi Miền Trung.[11/11/14]
Người bạn lớn, gần gũi và nặng lòng với nông dân Việt Nam.[10/11/14]
Sổ tay An toàn đập - Chương 8.[09/11/14]
Đập ở ThụySĩ (2)- Đập Gelmer: Thủy điện và khu nghỉ dưỡng.[08/11/14]
 Số phiên truy cập

53644883

 
Quản lý xây dựng
Gửi bài viết này cho bạn bè

Lại nói về đánh giá tác động môi trường.[04/04/11]
Từ khi hình thành đến khi nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ, các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định thành lập 3 Hội đồng khoa học công nghệ (KHCN): (1) Hội đồng khoa học công nghệ tư vấn xác định nhiệm vụ; (2) Hội đồng khoa học công nghệ tuyển chọn, xét chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu KHCN (3) Hội đồng khoa học công nghệ đánh giá nghiệm thu đề tài

LẠI  NÓI VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

 

Tô Văn Trường

 

Từ khi hình thành đến khi nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ, các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định thành lập 3 Hội đồng khoa học công nghệ (KHCN): (1) Hội đồng khoa học công nghệ  tư vấn xác định nhiệm vụ; (2) Hội đồng khoa học công nghệ tuyển chọn, xét chọn tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu KHCN (3) Hội đồng khoa học công nghệ  đánh giá nghiệm thu đề tài. Thành phần tham gia Hội đồng rất đa dạng tùy theo mục tiêu và lĩnh vực cần nghiên cứu, đánh giá. Các thành viên hội đồng là các chuyên gia có kinh nghiệm quản lý và chuyên sâu lĩnh vực liên quan đến đề tài. Một vấn đề có tính chất nổi cộm thường gây ra tranh luận trong các thành viên của hội đồng KHCN trong thời gian vừa qua là nhận thức, quan điểm về đánh giá tác động môi trường rất khác nhau. Từ kinh nghiệm của bản thân, qua trao đổi với một số chuyên gia chuyên sâu về môi trường ở trong và ngoài nước, chúng tôi có một số nhận xét như sau:

 

Hiện nay trên thế giới có 4 loại hình đánh giá tác động (ĐGTĐ) là : Đánh giá tác động môi trường; Đánh giá tác động xã hội; Đánh giá tác động sức khỏe và Đánh giá tác động kinh tế. Dưới góc độ khoa học, mỗi loại hình đánh giá tác động phải đáp ứng 3 tiêu chí của khoa học là đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu. Dưới góc độ môi trường 4 loại hình đánh giá tác động này được coi là công cụ mang tính phòng ngừa rất hữu hiệu trong công tác bảo vệ môi trường.

 

Đánh giá tác đông môi trường - ĐTM (Environmental Impact Asessment-EIA) ra đời sớm nhất và phát triển mạnh mẽ có chức năng dự báo các tác động của dự án đến các yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên. Các phương pháp về môi trường học đóng vai trò chủ đạo trong đánh giá tác động môi trường. ĐTM dùng để đánh giá tác động của các dự án đầu tư. Vì vậy, khi sử dụng ĐTM phải được thực hiện đồng thời với giai đoạn chuẩn bị đầu tư và tuân thủ các quy định về ĐTM tại Nghị định 21 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006 về hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và Thông tư 05/2008/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên & Môi trường.

 

Đánh giá tác động môi trường  ở Việt Nam chính thức bắt đầu có hệ thống từ khi có Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) từ năm 1993, được cập nhật năm 2005. Các báo cáo ĐTM từ dạng đơn giản như Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, bản Cam kết bảo vệ môi trường đến các bản đánh giá ĐTM khá bài bản theo quy định của nhà nước hiện nay, bước đầu đã đóng góp đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội bền vững của đất nước. Theo Ts Nguyễn Khắc Kinh nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường-Bộ Tài nguyên và Môi trường, ở Việt Nam có những sự hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ về bản chất của công cụ ĐTM. Khoảng đầu thập kỷ 80 cụm từ “Đánh giá tác động môi trường”  được dịch từ tiếng Anh là Environmental Impact Assessment (EIA), trong đó nghĩa của từ “Assessment” trong cụm từ này không tương đồng với nghĩa của từ “đánh giá” trong tiếng Việt (từ “đánh giá” hợp với từ “evaluation” hơn). Vì thế nhiều người kể cả chuyên gia khi dịch ngược ĐTM từ tiếng Việt sang tiếng Anh đều dịch là “Environmental Impact Evaluation” gây ra sự khó hiểu hoặc hiểu nhầm về bản chất của ĐTM ở Việt Nam.

 

Về bản chất, EIA là một công cụ khoa học mang tính dự báo trong quản lý, bảo vệ môi trường. Hay nói một cách khác, EIA là một công cụ giúp chúng ta tiên lượng, dự đoán được những tác động môi trường cả về mặt tích cực và tiêu cực có thể xảy ra, từ đó đề ra được những biện pháp nhằm ứng phó như thích nghi, giảm thiểu, giảm nhẹ, loại trừ với các tác động tiêu cực. Lẽ ra EIA phải được dịch chuẩn xác là “Dự báo tác động môi trường” hoặc nếu thích dịch từ “Assessment” thì phải hiểu đây là “Đánh giá trong dự báo” để hiểu bản chất dự báo của công cụ quản lý môi trường EIA. Chính vì nhận thức nhầm lẫn coi EIA như một công cụ “vạn năng” áp dụng để quản lý, bảo vệ môi trường nên quá trình thực hiện Luật BVMT năm 1993 xảy ra nhiều khiếm khuyết. Luật BVMT 2005 đã khắc phục những khiếm khuyết, bổ sung quy định Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC, tiếng Anh là Strategic Environmental Assessment-SEA) thực chất là “Dự báo môi trường chiến lược” chỉ áp dụng đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch (các quyết định mang tính chiến lươc) và phải được lập và thẩm định trước khi phê duyệt các quyết định mang tính chiến lược này. Nhờ có ĐMC ngay từ giai đoạn lập chiến lược, quy hoạch đã có thể chỉ ra đối với các dự án đầu tư thuộc loại hình nào công tác ĐTM phải đi sâu để đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra. Trong công tác lập quy hoạch các dự án thủy lợi trước đây thường chỉ có phần đánh giá ĐTM ở dạng đơn giản (đánh giá nhanh) có tính chất minh họa cho công tác quy hoạch. Ngày nay, các dự án quy hoạch thủy lợi lớn, liên vùng  muốn được phê duyệt phải có đánh giá môi trường chiến lươc (ĐMC) coi như công cụ đối chứng thực hiện song song làm sáng tỏ các phương án của quy hoạch thủy lợi.

 

ĐTM chỉ áp dụng đối với các dự án đầu tư và phải được lập, thẩm định và phê duyệt trước khi quyết định, phê duyệt dự án đầu tư. Riêng đối với các cơ sở đang hoạt động thì Luật BVMT 2005 chưa có quy định áp dụng công cụ nào. Nhiều nước trên thế giới áp dụng công cụ kiểm toán môi trường. Độ tin cậy, chính xác của ĐTM phụ thuộc vào phương pháp dự báo, thông tin số liệu đầu vào và kinh nghiệm tay nghề của người thực hiện. Thông tin quan trọng nhất chính là thực trạng của các thành phần môi trường sẽ bị tác động bởi dự án như khả năng tự làm sạch môi trường, khả năng tự chống đỡ của môi trường phải được xác định chính xác ngay tại thời điểm dự án, đây chính là hiện trạng môi trường và phải được dự báo cho đến thời điểm dự án đi vào triển khai hoạt động. Khó khăn cho những người thực hiện ĐTM là độ tin cậy và rất hạn chế về lượng thông tin có tính hệ thống, đồng bộ.

 

ĐTM hiện nay vẫn đang theo phương thức đơn lẻ đối với từng dự án đầu tư cho nên kết quả thường hạn chế. Cách tốt nhất là phải “lồng ghép” trong dự báo, đánh giá tác động của hệ thống các dự án trong cùng 1 vùng.

 

Trong đánh giá tác động môi trường, tiêu chuẩn môi trường (TCMT) và quy chuẩn môi trường (QCVN) là các căn cứ, chuẩn mực để so sánh, đánh giá và xác định mức độ của các tác động môi trường. Ở Việt Nam mới chỉ có tiêu chuẩn/quy chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và tiêu chuẩn môi trường chất thải. Khi đề cập các giải pháp ứng phó thích hợp đối với tác động môi trường gặp nhiều lúng túng vì thiếu các tiêu chuẩn xác định quy mô, mức độ của các tác động không phải do chất thải gây ra như vấn đề xói lở bờ, sụt lún đất, vành đai an toàn về môi trường, sự làm mất cân bằng sinh thái, mất đa dạng sinh học, bộ tiêu chí về đất trong nuôi trồng thủy sản  vv…Một ví dụ rất thực tế, thời gian vừa qua, tôi tham gia giúp cho Công ty Hanesbrands của Mỹ về việc đánh giá tác động môi trường (EIA) khi mở rộng nhà máy sản xuất đồ thời trang cao cấp ở Hưng Yên cũng gặp nhiều khó khăn về thiếu thông tin và bộ tiêu chí về môi trường. Ngoài ra, ở Việt Nam, ngay cả cơ chế đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới cũng chưa có cho nên gặp các dự án đánh giá tác động môi trường có tính chất liên quốc gia như ở lưu vực sông Mekong thường rất lúng túng vì thiếu cơ sở pháp lý.

 

Đánh giá tác động xã hội – ĐTX (Social Impact Asessment- SIA) ra đời châm hơn nhưng người ta vẫn coi đánh giá tác động xã hội (ĐTX) quan trọng như ĐTM để làm nhiệm vụ dự báo các tác động của dự án đến các yếu tố về xã hội. Các phương pháp về xã hội học đang đóng vai trò chủ đạo trong ĐTX.

 

Đánh giá tác động về sức khỏe-ĐTS (Health Impact Asessment-HIA) được tách ra khỏi Đánh giá tác động xã hội để chuyên dự báo các tác động của dự án đến sức khỏe con người. Các phương pháp về y học, dịch tễ học, thậm chí cả các phương pháp về di truyền học đóng vai trò chủ đạo trong Đánh giá tác động về sức khỏe

 

Đánh giá tác động về kinh tế-ĐTK (Economic Impact Asessment – EcIA) tuy mới ra đời sau này nhưng vẫn được coi là quan trọng như ĐTM, ĐTX và ĐTS

 

Nguyên tắc cơ bản khi đánh giá tác động: Đánh giá tác động hiện nay đang tuân thủ 2 nguyên tắc: (1) Đối tượng gây ra tác động là các nội dung hoạt động của dự án có khả năng gây ra tác động. Đối tượng bị tác động là các yếu tố về môi trường, xã hội, sức khỏe và kinh tế có nguy cơ bị ảnh hưởng từ các nội dung hoạt động của dự án. (2) Chỉ xem xét mối quan hệ tác động theo 1 chiều, cụ thể là chỉ xem xét các tác động của dự án đến môi trường/xã hội/ sức khỏe/kinh tế, chứ không xem xét chiều ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tế nghiên cứu khả thi rất cần xem xét tác động theo chiều ngược lại.

 

Có 2 điều kiện cần và có ý nghĩa quyết định đến tính đầy đủ và độ chính xác của kết quả dự báo. Điều kiện thứ nhất là cần có thông tin đầu vào cho dự báo liên quan đến cả 2 đối tượng (đối tượng gây ra tác động và đối tượng bị tác động) với nguyên lý “càng chi tiết, đầy đủ, đồng bộ, cập nhật, tin cậy … càng tốt”, trong đó, đối với đối tượng bị tác động, có chuỗi số liệu liên quan đến thời gian càng dài và không gian càng rộng thì càng tốt. Điều kiện thứ hai lựa chọn được phương pháp dự báo thích hợp phụ thuộc vào tính chất của từng loại hình dự án và nguồn thông tin sẵn có.

 

Một số chuyên gia thường ngộ nhận cho rằng đánh giá tác động bao gồm cả nội dung đánh giá rủi ro (Risk Asessment). Phương pháp và nội dung nghiên cứu của Đánh giá rủi ro (ĐR) hoàn toàn khác với đánh giá tác động. Đánh giá rủi ro là việc cần thiết phải làm nhưng đó là nhiệm vụ của chủ đầu tư và nhiệm vụ của nghiên cứu khả thi. Tuy nhiên, cần lưu ý là kết quả của đánh giá rủi ro chính là cơ sở quan trọng và là thông tin đầu vào cho đánh giá tác động.

 

Liên hệ đến câu chuyện dự án bô xít Tây Nguyên trong thời gian vừa qua khi ngoài xã hội cũng như trong nghị trường có rất nhiều tranh luận, chất vấn xung quanh khả năng vỡ hồ bùn đỏ và yêu cầu các nhà môi trường trả lời. Chúng tôi rất chia sẻ và cảm thông với khó khăn của  bộ trưởng bộ Tài nguyên Môi trường khi bị chất vấn ở Quốc hội. Nhưng cũng rất tiếc là bộ trưởng lại sốt sắng khẳng định là các chuyên gia đã đánh giá tác động môi trường rất khoa học và kỹ lưỡng về rủi ro này, thậm chi còn nói rằng đã căn cứ vào những tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia, quốc tế tân tiến nhất !? Thực tế, từ khi thực hiện đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam chưa có một ai dám khẳng định và chỉ ra rằng bằng các phương pháp của ĐTM mà đánh giá được rủi ro theo đúng nghĩa của nó!?  Hơn nữa, trong ĐTM nói riêng và trong bảo vệ môi trường nói chung, Việt Nam chưa hề có tiêu chuẩn hay quy chuẩn nào của riêng mình hay của quốc tế được sử dụng để đánh giá rủi ro trong đánh giá tác động môi trường.

 

Không ít người lầm tưởng rằng ĐTM có nhiệm vụ giải quyết hết tất cả các tác động về môi trường cũng như các tác động khác về xã hội, về sức khỏe con người và về kinh tế. ĐTM không thể thay thế cho tất cả các bộ môn khác (ĐTX, ĐTS và ĐTK).

 

THAY CHO LỜI KẾT  

 

Trong một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và cấp nhà nước thường đề cập đến đánh giá tác động thuộc phạm trù của cả 04 bộ môn đánh giá tác động môi trường, đánh giá tác động xã hội, đánh giá tác động sức khỏe và đánh giá tác động kinh tế. Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có quy định và hướng dẫn kỹ thuật về đánh giá tác động xã hội, đánh giá tác động sức khỏe và đánh giá tác động kinh tế.  Bởi vậy đối với các đề tài nghiên cứu khoa học khi đề cập đến đánh gía tác động cần giới hạn nội dung ở các tác động về môi trường và một vài khía cạnh về xã hội, sức khỏe và kinh tế có liên quan đến các tác động môi trường. Muốn thực hiện được đánh giá tác động phải có đủ thông tin, dữ liệu về 2 đối tượng gây ra tác động và bị tác động như đã phân tích ở phần trên và phải có những phương pháp phù hợp.

      

Đánh giá tác động đã trở thành những công cụ dự báo được thừa nhận  rộng rãi trên thế giới trong quản lý môi trường, đặc biệt là đã có quy trình và quy định pháp luật cụ thể ở từng nước. Đối với các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến đánh giá tác động nói chung hay đánh giá môi trường nói riêng nên đặt vấn đề đi vào những đề tài nhằm tạo cơ sở khoa học để giải quyết những vấn đề còn bất cập hiện tại ở nước ta như cải tiến công cụ đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam theo hướng có hiệu quả, thiết thực hơn, đề xuất quy định pháp luật bắt buộc áp dụng đánh giá tác động xã hội, sức khỏe và kinh tế. Đánh giá khả năng tự làm sạch, sức chịu tải của môi trường bị tác động; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật làm căn cứ chuẩn mực cho đánh giá tác động môi trường theo hướng tổng hợp trên vùng lãnh thổ. Việt Nam cần gia nhập Công ước Espoo để làm cơ chế thiết lập các cơ chế đánh giá tác động môi trường xuyên biên giới với các nước xung quanh.

 

Luật bảo vệ môi trường 1993, bổ sung 2005 đã đến lúc cần tiếp tục cập nhật bổ sung cùng quy định hướng dẫn thực hiện quy hoạch môi trường  để làm cơ sở cho các ngành, các cấp “lồng ghép” khi xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển.

 

 

Đóng góp ý kiến về bài viết này 

Mới hơn bài này
Các bài đã đăng
Tiêu điểm
Danh sách Hội viên tập thể đã đóng niên liễm (hội phí hàng năm) 2013.[13/02/2014]
Chùm ảnh Đại hội lần thứ 2 Hội Đập lớn Việt Nam.[13/08/09]
Nhìn lại 5 năm hoạt động của VNCOLD trong nhiệm kỳ đầu tiên.[10/08/09]
Thông báo về Hội nghị Đập lớn Thế giới.[17/07/09]
Thư chào mừng của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
Phát biểu của Bộ trưởng Cao Đức Phát tại lễ kỷ niệm 63 năm ngày truyền thống ngành Thủy Lợi.
VNCOLD đã thành công tại cuộc họp Chấp hành ICOLD Sofia (Bulgaria), 6/6/2008
Phó Thủ tướng khai mạc Hội thảo “ASIA 2008.
Tạo miễn phí và cách sử dụng hộp thư @vncold.vn
Cuộc họp khởi đầu Ban Khoa học Công nghệ của VNCOLD.[17/12/07]
VNCOLD.VN phỏng vấn Đặc phái viên Chính phủ về đập và thủy điện ở Việt Nam.
Website nào về Thủy lợi ở VN được nhiều người đọc nhất?
Giới thiệu tóm tắt về Hội Đập lớn & Phát triển nguồn nước Việt Nam.
Download miễn phí toàn văn các Tiêu chuẩn qui phạm.
Đập tràn ngưỡng răng cưa kiểu “phím piano".
Hiệu quả đầu tư phát triển thủy lợi tại ĐB sông Cửu Long
Đập Cửa Đạt
Qu?ng c�o